Thuốc bổ

Thuốc từ cây mít

Cây mít có tên khoa học là Artocarpus heterophyllus Lam, thuộc họ dâu tằm (Moraceae). Tại Việt Nam, cây mít được trồng ở đồng bằng và vùng núi cao đến 1.000m. Người ta trồng mít chủ yếu để lấy trái làm thực phẩm.

 

Tuy nhiên, trong hạt mít, ngoài tinh bột, protid, lipid, muối khoáng còn chứa một chất ức chế men tiêu hóa đường ruột nên khi ăn nhiều dễ bị đầy bụng. Hạt mít giàu calo (hơn cả khoai lang, sắn) và rất giàu các chất khoáng (calcium, lân, sắt…). Xơ mít cũng được sử dụng làm thực phẩm. Người nông dân ở Nghệ An, Hà Tĩnh thường dùng xơ mít để muối dưa, gọi là nhút. Đây là loại dưa muối đặc sản nổi tiếng, chất lượng không thua kém gì các loại dưa muối khác.

 


Gỗ mít là loại gỗ quý, nhất là tâm gỗ ở các cây lớn, được sử dụng làm nhà, làm đồ gia dụng và chế những đồ gỗ mỹ nghệ do có thớ mềm, không nứt, không mọt. Lá mít dùng làm thức ăn rất tốt cho các loại gia súc như bò, dê, hươu.

 

Theo tài liệu của Tổ chức Lương nông thế giới (FAO), trong múi mít chứa nhiều chất đường, đạm, các loại vitamin A, B1, B2, C và nhiều khoáng chất cần thiết cho cơ thể.

 

Y học cổ truyền đã sử dụng mít làm thuốc từ lâu đời. Sách Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh viết: "Mít có vị ngọt, khí thơm, tính không độc. Có tác dụng ích khí, giải say rượu. Ăn mít sẽ nhẹ mình, đẹp sắc mặt".

 

Hầu như tất cả các bộ phận của cây mít đều được dùng làm thuốc. Lá mít được dùng làm thuốc lợi sữa, chữa ăn uống không tiêu, tiêu chảy và trị cao huyết áp. Ở Ấn Độ, người ta dùng lá mít chữa các bệnh ngoài da và rắn cắn. Gỗ mít mài lấy nước uống có tác dụng an thần, liều dùng 6-10g/ngày. Trong khi đó rễ cây mít xắt uống có thể trị tiêu chảy.

 

Theo Lương y Đinh Công Bảy

Share